Thứ Năm, 28 tháng 7, 2011

Những mùa thi khoả thân

Thất bại là mẹ thành công, câu nói ấy là câu những thí sinh thi đại học sợ hãi nhất.

Thất bại trong kỳ thi đại học cao đẳng còn bị bêu tên lên khắp phương tiện thông tin đại chúng, được trưng biển công khai dọc trường thi, được bất kỳ kẻ tò mò nào chỉ cần nhắn tin điện thoại hoặc truy cập Internet miễn phí cũng lùng được kẻ thất bại.

Thí sinh thi trượt sẽ được tuyên án công khai, khi kết quả thi của họ lần lượt bị công khai khắp toàn quốc. Không chỉ điểm thi, tên họ, còn cả ngày tháng năm sinh, gốc gác gia đình.

Điều đó làm tổn thương lòng tự trọng của những người thi trượt, tổn thương sâu sắc hơn niềm vui của những người đỗ đầu gấp nhiều lần, nếu ta dùng vui và buồn để đong đếm những gì cơ chế công khai điểm thi toàn quốc mang lại cho con người. Nhất là khi chỉ số ít thí sinh trúng tuyển, số nhiều thất bại.

Tưởng tượng những người trượt sau mùa thi, trần truồng không gì che chắn trước đám đông, với sự thất bại của mình.

Từ điển tiếng Hán định nghĩa “thông tin bí mật cá nhân” là “những thông tin mà cá nhân không muốn nhiều người biết hoặc những việc cá nhân không muốn công khai”. Như thế bảng lương tháng ở công ty, bảng điểm trúng tuyển đại học hàng năm cũng đang xâm phạm tới quyền bảo hộ thông tin cá nhân y như những băng sex hai người bị kẻ thứ ba tung lên mạng.

Điểm số có đại diện cho giá trị của bạn không, tôi nghĩ là không. Tôi đã đọc tiểu sử của Quách Mạt Nhược, khi đi học ông có thành tích rất tệ hại, xếp loại đạo đức chỉ được 35/100 điểm và môn Văn chỉ đạt 45/100 điểm. Thế nhưng đạo đức kém lại trở thành nhà hoạt động xã hội đoạt giải thưởng hoà bình quốc tế Stalin, Văn tệ hại lại trở thành nhà văn, nhà lịch sử. Chắc chắn giáo dục trình độ cũng chỉ quan trọng tương đương giáo dục tố chất con người mà thôi.

Và những kỳ thi với những thí sinh thất bại khoả thân trước công luận đã tặng người đi học một bài hổ thẹn.

Và công khai điểm thi như một sức ép phân loại vô tình, liệu có phải là một lựa chọn phản giáo dục?

Năm 2006, khi Mai Phương Thúy vừa đăng quang hoa hậu Việt Nam, có những bài báo cho rằng, hoa hậu gian lận khi công bố điểm thi. Bằng chứng là nhà báo không tìm thấy điểm thi của Mai Phương Thúy trong danh sách trúng tuyển đại học.

Sau này, khi Mai Phương Thúy được “minh oan” bởi lỗi là do bộ gõ tiếng Việt của những nhà báo đó không tìm ra kết quả thi của Thúy, tôi không thấy họ xin lỗi một lời.

Khi người ta không chỉ xâm phạm thông tin cá nhân, còn chạm ít nhiều tới lòng tự trọng của một con người. Một mùa thi mới lại tới. Ai sẽ trần truồng không có cái lá nho che đi nơi xấu xí, trước công luận?

http://trangha.wordpress.com/2008/06/26/cu%e1%bb%91i-tu%e1%ba%a7n-cu%e1%bb%91i-thanh-ph%e1%bb%91-2/#comments

Thứ Tư, 27 tháng 7, 2011

Món ăn của người Úc

PNO - Úc là quốc gia đa sắc tộc và đa văn hóa. Chính vì vậy, văn hóa ẩm thực của người Úc chịu ảnh hưởng từ nhiều cách nấu nướng khác nhau của các quốc gia trên thế giới.


Phần lớn các món ăn được xem là bản sắc của Úc đều là phiên bản một món ăn của quốc gia nào đó trên thế giới. Người dân của xứ sở chuột túi có thể tự hào về những món ăn sau đây:

1. Hải sản

Người Úc thừa hưởng rất nhiều kỹ thuật nấu nướng từ những người nhập cư. Hầu hết những thành phố lớn của đất nước này đều nằm ở vùng duyên hải nên hải sản chiếm số lượng khá lớn trong thực đơn của các nhà hàng và các món ăn hàng ngày trong những gia đình Úc.

Tôm, sò, ốc được đánh bắt ở khu vực bờ biển của những hòn đảo. Cá ngừ lớn và barramundi là những loại cá đặc sản của nước Úc. Thịt của các loại cá này được dùng trong các món mì, nui, món sushi và thịt cá phi lê, tượng trưng cho rất nhiều nét văn hóa đã ảnh hưởng đến quốc gia này.

2. Bánh pa-tê nhân thịt
Loại bánh pa-tê nhân thịt ở Úc khác hẳn với những chiếc bánh bao nhồi thịt ở Anh và Mỹ. Phần bên ngoài của chiếc bánh pa-tê là lớp vỏ giòn và xốp. Bên trong được nhồi thịt băm, nước sốt thịt và một số loại rau.

Không giống như loại bánh pa-tê tráng miệng thông thường, bánh pa-tê của Úc nhỏ hơn và có nước sốt. Người Úc thường ăn bánh pa-tê nhân thịt trong lúc đang di chuyển trên đường hoặc khi xem thể thao.
3. Bánh qui ANZAC
 
ANZAC là tên viết tắt của Công ty kinh doanh thuộc quyền quản lý của quân đội Úc và New Zealand. Lúc đầu, bánh qui ANZAC là loại bánh do những người vợ của binh sĩ trong quân đội làm và gửi cho chồng của họ, những người đang phải đi chiến đấu ở xa. Dần dần, bánh ANZAC trở nên nổi tiếng và trở thành một nét văn hóa của người Úc. Chúng được ưa chuộng trong các sự kiện lớn, từ những ngày lễ của đất nước cho đến các buổi lễ tưởng niệm…

Công thức đặc biệt của bánh qui ANZAC khác hẳn với cách chế biến bánh qui ở những nơi khác. Tuy nhiên, thành phần chủ yếu để tạo nên hương vị của loại bánh này vẫn là bột yến mạch và dừa. Ngày nay, món bánh này được sản xuất và bán rộng rãi tại các chợ, siêu thị, cửa hàng ở Úc và New Zealand.

4. Bánh xốp kem và trái cây


Mặc dù không ai biết rõ nguồn gốc xuất xứ của món bánh này, nhưng hiện nay chúng vẫn được xem là món tráng miệng rất được yêu thích ở cả Úc và New Zealand.

Bánh xốp kem và trái cây có kết cấu giống như bánh trứng đường. Bên ngoài là lớp bánh giòn, phần bên trong có nhiều kem trứng với những mùi vị khác nhau. Thông thường, món tráng miệng này còn được phủ lên một lớp kem và những lát trái cây trang trí.
5. Vegemite

Vegemite là món bơ khá phổ biến ở Úc. Đây là sản phẩm pha trộn giữa các thành phần gồm chiết xuất từ men bia, các loại rau và gia vị.

Người Úc dùng loại bơ rau quả này để phết lên bánh mì hoặc bánh quy giòn. Thưởng thức hương vị đặc biệt của vegemite là một trong những điều thú vị nhất đối với du khách khi khám phá ẩm thực của nước Úc.

Hồng Xuân (Theo ehow.com) - 10/03/2011




Thư Nguyễn

(Tựa gốc: Đi tìm bánh mì ngon nhất Việt Nam)


TT - Có bao giờ bạn quyết định đến một nơi nào đó chỉ vì... các món ăn ở nơi đó? Với Thư Nguyễn, câu trả lời là: "Thường xuyên!". Vậy có món ăn nào khiến bạn mê mệt đến mức phải tạm gác mọi công việc, dành thời gian tìm hiểu và viết hẳn một quyển sách về nó? Với Thư Nguyễn, đó là bánh mì.
 
Đi tìm công thức bánh mì ngon tuyệt tại VN, Thư Nguyễn đã trải qua cuộc hành trình dài ba tháng ở 21 tỉnh, thành, nếm gần như mỗi ngày một kiểu bánh mì khác nhau - Ảnh: nhân vật cung cấp

My quest for yummy "bánh mì" (tạm dịch: Hành trình đi tìm bánh mì tuyệt ngon) là quyển sách, hay nói đúng hơn là cẩm nang du lịch - ẩm thực, mà Thư vừa hoàn tất, đã ra mắt theo hình thức sách điện tử hôm 21-7 (trên trang http://youcook.ca hay www.questforyummy.com). Sách cũng sẽ được phát hành dạng quyển truyền thống vào giữa tháng 8 tại Canada.

Chuyến đi kỳ thú

Năm 2001, Thư về Việt Nam để thực tập và dự án mà Thư tham gia lúc bấy giờ là thực hiện trang web cho Tập đoàn Norfolk tại VN. Ðó là lần đầu tiên Thư về nước sau 16 năm theo gia đình định cư tại Canada. "Chuyến đi giúp tôi "mở mắt", nhận ra thế giới này rộng lớn và kỳ thú biết bao. Chuyến đi cũng khơi mào cho rất nhiều sự kiện mà tôi tham gia trong suốt 10 năm qua, giúp tôi có thêm niềm đam mê với ẩm thực, du lịch, nhiếp ảnh và ước muốn chia sẻ những trải nghiệm của mình với bất cứ ai có chung những đam mê đó" - Thư đã viết trong phần tự giới thiệu ở những trang đầu của quyển sách.

Trở về Bắc Mỹ, Thư Nguyễn lại gặp nhiều duyên may cộng tác với các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh ẩm thực. Cô đi nhiều nơi, thử món ăn danh tiếng của hầu hết các quốc gia và dần đắm chìm trong thế giới ẩm thực đầy quyến rũ. Thế là thay vì làm "lính đánh thuê", thiết kế trang web với những câu chuyện ẩm thực cho người khác, Thư quyết định nghỉ việc, mở công ty riêng và sáng lập trang http://youcook.ca (với tiêu chí "Bringing your favourite restaurant recipes home", tạm dịch: Mang những công thức của nhà hàng danh tiếng về nhà bạn) để chia sẻ niềm đam mê ẩm thực của mình với bạn bè "có tâm hồn ăn uống" khắp nơi trên thế giới.

Bánh mì trên mọi nẻo đường

Những ngày đầu youcook.ca của một cô gái gốc Việt ngập tràn công thức, kỹ thuật nấu ăn, hình ảnh, phim ảnh về các món ăn của Pháp, Ý, Ấn Ðộ, Canada, Nhật... Không bằng lòng với điều "trái khoáy" này, Thư quyết định tạm gác các công việc hiện thời, dành hết thời gian, công sức và tiền bạc để lăngxê món ăn VN trên trang youcook.ca của mình. Táo bạo hơn, Thư sẽ thực hiện một loạt sách về ẩm thực VN mà bánh mì sẽ là "món khai vị".

Không chỉ ở TP.HCM, những TP khác như: Hà Nội, Hạ Long, Huế, Ðà Nẵng, Hội An, Nha Trang...; bánh mì hiện diện khắp các vỉa hè, bến phà, quán xá, nhà hàng, trường học, bàn ăn gia đình... Bánh mì nóng giòn với vô số loại nhân khác nhau, kèm theo rau củ và gia vị tùy mỗi vùng miền là một "công thức bí ẩn", đầy cuốn hút với những thực khách phương xa. Ở mỗi nơi, Thư đều vào tận các xưởng bánh hay các tiệm bán, xe đẩy danh tiếng để lấy công thức làm bánh, làm nhân, rau củ và gia vị bên trong. Tất cả những công thức bánh mì tuyệt hảo đó đều được tiết lộ trong My quest for yummy "bánh mì" kèm theo vô số hình ảnh "chỉ nhìn đã thèm", lời khuyên cũng như địa chỉ cụ thể nơi bạn có thể tự mình đến để trải nghiệm và chọn cho mình một "công thức bánh mì tuyệt hảo".

Thư mong từ dự án này có thể tìm thấy và kết thêm nhiều bạn có cùng đam mê ẩm thực, tình yêu với con người, cảnh đẹp và món ăn VN. "Bạn có thể chia sẻ với tôi những tình cảm, trải nghiệm tuyệt vời đó trên trang youcook.ca ngay từ hôm nay. Và đừng quên gợi ý cho tôi "món" tiếp theo mà các bạn muốn thưởng thức. My quest for yummy "phở" hay My quest for yummy "bún" có được không?" - Thư cười hạnh phúc với ý tưởng vừa nảy ra trong đầu.

QUỲNH NGUYỄN


Một trang trong My quest for yummy “bánh mì”. Không chỉ giới thiệu về điểm bán bánh mì ở Hồ Tây, Thư còn tranh thủ “tiếp thị” những thông tin về Hà Nội và các món ngon ở đây như: bánh cuốn, bánh tôm, bún ốc, chả cá, bia hơi...

Thư Nguyễn (Nguyễn Việt Uyên Thư) sinh năm 1981 tại TP.HCM. Năm 1985, Thư theo gia đình định cư tại Canada. Cô lấy bằng kỹ sư máy tính tại ĐH Waterloo và từng làm việc ở Thung lũng Silicon năm năm trước khi quay về Canada mở Công ty 2Cre8tive Solutions và làm “tổng biên tập” cho trang youcook.ca của mình.

Để có tiền in sách, Thư đã lên trang kickstarter.com (trang web cho phép mọi người chia sẻ mọi ý tưởng và tìm kiếm các “nhà đầu tư” trình bày ý tưởng của mình). Và Thư đã nhận được rất nhiều lời động viên cùng với 2.835 đôla ủng hộ (mỗi người chừng vài chục đôla). Thư cho biết sẽ tặng các “nhà đầu tư” này mỗi người một quyển sách sau khi sách chính thức phát hành.

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/448374/Di-tim-banh-mi-ngon-nhat-Viet-Nam.html




Thứ Hai, 25 tháng 7, 2011

Georges Condominas

(Tựa gốc: Tiễn đưa Condo của chúng ta, của Tây Nguyên )


SGTT.VN - Georges Condominas đã ra đi trong đêm thứ bảy 16 rạng sáng chủ nhật 17.7.2011. Thế giới vừa mất một trong những nhà dân tộc học lớn nhất của mình. Chắc chắn trong những ngày đến sự kiện này sẽ gây xao động không chỉ ở Pháp, và ở Việt Nam, nơi nhà bác học này đặc biệt gắn bó. Và tôi chắc ở một nơi sâu tít trong tận cùng Tây Nguyên, tại cái làng nhỏ có tên là Sar Luk bên bờ con sông Krong Nô hoang vắng, dưới chân dãy Chư Yang Sin hùng vĩ, một dân tộc rất nhỏ tên là dân tộc Mnông Gar sẽ làm lễ bỏ mả cho ông, Yoo Condo thân thiết của họ - Yoo là cách người Mnông Gar gọi người nơi khác đến mà đã trở nên ruột thịt.
Yoo Condo thân thiết của người Mnông Gar.

Tôi đã may mắn được là một người bạn nhỏ của con người vĩ đại ấy, và cách tôi được gặp và quen ông thật lạ, cũng có thể là tiêu biểu cho một trong những tính cách độc đáo của ông. Hơn 30 năm trước, một hôm đang ngồi làm việc ở nhà, tôi nghe điện thoại reo và bên kia đầu dây một người nói với tôi bằng tiếng Pháp: “Tôi vừa từ Paris sang, một chị bạn của anh bên ấy nhờ mang cho anh mấy cuốn sách, làm sao trao được cho anh?”. Tôi cám ơn và xin ông cho biết tôi có thể đến gặp ông ở đâu để nhận sách. Ông trả lời: “Tôi là Geoges Condominas, hiện ở khách sạn X, anh có thể đến khoảng 2 giờ chiều nay không?” Không thể nói hết sửng sốt của tôi, hóa ra một nhà bác học lớn, mà tôi đã được đọc một số tác phẩm nổi tiếng, vừa gọi điện cho tôi và chỉ mấy tiếng nữa tôi sẽ được gặp ông! Mươi phút sau, điện thoại lại reo. Vẫn là Condominas. “Thôi, anh không cần đến khách sạn đâu. Tôi có một người bạn ở Hà Nội biết nhà anh, tôi sẽ đến chỗ anh ngay bây giờ, được không?”.

Tả sao hết hồi hộp. Mươi lăm phút sau một chiếc xe máy đổ xịch trước thềm: nhà dân tộc học lừng danh thế giới, người thầy của bao thế hệ dân tộc học khắp năm châu, đến nhà tôi bằng xe ôm! Tôi còn nhớ mãi hình ảnh Condo hôm ấy, cũng sẽ là hình ảnh quen thuộc những người biết ông hẳn còn mãi ghi nhớ: chiếc áo vét tông lụng thụng và hơi nhàu, không hề có cà vạt, chiếc mũ phớt hơi rộng vành màu nâu nhạt. Ông ở chơi với tôi gần suốt buổi, say sưa trò chuyện về Tây Nguyên, ông hỏi tôi lên Tây Nguyên từ năm nào, cười bảo “Thế là thua tôi rồi, tôi đến Tây Nguyên trước anh một năm cơ …”. Cuộc trò chuyện sôi nổi, song cũng nhiều lúc chùng xuống, chúng tôi chia sẻ cùng nhau niềm nhớ và nhất là nỗi lo đau đáu về vùng đất xiết bao ruột thịt với cả hai chúng tôi, đang trải qua những thử thách có lẽ là lớn nhất, nặng nề nhất trong suốt lịch lâu dài của nó. Rừng và con người ở đó đang và rồi sẽ ra sao? “Anh biết đấy”, Condo bảo, tôi từng viết “Chúng tôi ăn rừng…”. Ăn rừng, người Tây Nguyên “ăn rừng”, xin thức ăn cho sự sống của mình từ rừng, cũng như chúng ta nói chúng ta bú sữa mẹ mà lớn lên thành người. Tây Nguyên không còn rừng thì rồi sẽ ra sao? …”.

Chính nỗi ưu tư đeo đẳng và ngày càng thống thiết ấy gắn kết chúng tôi. Mỗi lần ông sang Việt Nam, chúng tôi đều gặp nhau, cùng đi Tây Nguyên, cùng đi miền núi Quảng Nam. Lần ông cũng bảo: “Tôi luôn thèm về đấy. Ở nơi ấy tôi đã học làm người”. Và ở cuộc triển lãm đặc sắc “Chúng tôi ăn rừng – G. Condominas ở Sar Luk” được trưng bày ở Paris, rồi ở Hà Nội tháng 12-2007, giới thiệu cuộc đời và sự nghiệp của ông, có một băng rôn ghi một câu của Condominas, có thể coi là châm ngôn của đời ông, nghe hơi lạ và rất đáng chú ý: “L’ethnographie est un genre de vie”. Có thể dịch: “Dân tộc học là một kiểu sống” hay “Dân tộc học là một lối sống”. Riêng tôi muốn dịch “Dân tộc học là một loại hình sống”. Loại hình, như các loại hình thực vật, động vật … Một loại hình, chứ không phải một nghề.

Giáo sư Georges Condominas sinh năm 1921 tại Hải Phòng, cha người Pháp còn mẹ mang ba dòng máu Bồ Đào Nha, Hoa và Việt. Từ nhỏ ông đã theo cha sống ở Pháp, Tunisia và Việt Nam. Ông vừa học luật vừa học hội hoạ ở trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Đương (Hà Nội), sau đó về Paris học để lấy bằng cử nhân văn khoa (1947) và bằng của trung tâm Đào tạo nghiên cứu dân tộc học (1948). Năm 1970 ông trình luận án tiến sĩ khoa học nhân văn ở đại học Sorbonne (Paris). Năm 2007, ông được bầu làm thành viên danh dự viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO). Ông đã nhiều lần là giáo sư thỉnh giảng ở các đại học hàng đầu thế giới. Năm 2006, viện Khoa học xã hội Việt Nam tặng ông huy chương của viện. Năm 2010, ông nhận giải Việt Nam học của quỹ văn hoá Phan Châu Trinh.

Hai cuốn sách của ông: Nous avons mangé la forêt (Chúng tôi đã ăn rừng) và L’exotique est quotidien (Cái xa lạ là hằng ngày) được nhà dân tộc học André Leroi-Gourhan xếp vào số “các cuốn sách kinh điển của ngành dân tộc học”.

Condominas được đào tạo bởi những con người không chỉ là những nhà nhân học, dân tộc học lớn, mà còn là những nhân cách lớn, rất đặc biệt, hay đúng hơn nữa, thuộc một “loại hình” riêng, những Marcel Mauss, Paul Mus, Claude và Paul Lévy-Strauss, André Leroi-Gourhan, André-George Haudricourt, Pierre Edouard Mestre, Maurice Leenhardt… cùng với Georges Balandier, Jean Guiart, Paul Mercier … Có thể hiểu một cách vắn tắt “loại hình” ấy như thế này: một nhà khoa học bất kỳ có thể có hai cuộc đời, cuộc đời của người làm khoa học, và một cuộc đời riêng, không nhất thiết gắn làm một. Nhà dân tộc học thì không, anh ta chỉ có một, không thể tách rời, dân tộc học là cuộc đời anh, cuộc đời anh là dân tộc học, không chừa lại chút gì; anh đồng hóa với đối tượng của mình đến cùng, cùng một số phận, cùng một số mệnh, cùng một loại hình, anh không ở bên ngoài mà bên trong nó, anh chính là nó, thành bại, mất còn.

Chúng ta biết dân tộc học, nói cho đúng, trước hết là một sản phẩm của châu Âu, của chủ nghĩa thực dân. Nó sinh ra khi chủ nghĩa thực dân châu Âu đi chinh phục và biết đến các dân tộc “lạc hậu”, tìm hiểu chúng. Vì vậy nhà dân tộc hầu như bao giờ cũng từ một nền văn hóa được tự coi là cao hơn đến quan sát, nghiên cứu một nền văn hóa bị coi là thấp hơn, từ bên ngoài nhìn vào và từ bên trên nhìn xuống… Năm 1948 anh thanh niên Condominas vừa mới ra trường, sang Đông Dương, lên Tây Nguyên, tìm đến tộc người Mnông Gar ở làng Sar Luk hoang vắng, và ngay từ đầu ý thức sâu sắc “mặc cảm” đó, hiểu rằng anh phải khắc phục được nó, phải thay đổi toàn bộ cuộc đời mình, nhập thân được vào “loại hình” dân tộc học của mình. Hiểu Mnông Gar ư? Anh phải hiểu nó từ bên trong. Sau này anh sẽ nói, giản dị - vậy đó, chân lý thì bao giờ cũng giản dị - chẳng hạn, “để biết một món ăn Mnông Gar có ngon không thì nhất thiết phải là một người Mnông Gar”. Anh phải thành một người Mnông Gar. Condo vào làng Sar Luk, xin làm một căn nhà chen giữa làng, thành một hộ như bao nhiêu hộ của làng. Thời gian ngắn đầu, anh còn phải nhờ một phiên dịch, nhưng rồi anh nhanh chóng học thạo tiếng, đến mức đêm nằm mơ toàn bằng tiếng Mnông Gar – nghĩa là anh tư duy không phải bằng tiếng Pháp nữa mà bằng tiếng Mnông Gar; anh “tư duy Mnông Gar”. Anh sống cùng số phận của làng, vui mừng, đau khổ, thành bại, sống chết cùng làng Mnông Gar đến tối đa, để sự hiện diện của một người ngoài, lại là một da trắng, lại là một nhà dân tộc học nữa, không làm biến dạng hiện thực như hằng có của làng, làm biến dạng một cách tất yếu ứng xử của người làng với nhau và với người lạ khi làng có “khách” lạ …

Tác giả và Georges Condominas. Ảnh: Đoàn Huy Giao

Song ở đây còn có chỗ rất tế nhị: nhà dân tộc học hết sức “quên” mình đi, để cho làng cũng “quên” sự hiện diện của anh đi, nhưng đồng thời anh vẫn phải là nhà dân tộc học, tỉnh táo và sắc sảo quan sát. Có mâu thuẫn không, và nhà dân tộc học phải giải quyết mâu thuẫn đó như thế nào? Có lần tôi đã hỏi Condominas về điều ấy. Rất ngạc nhiên là ông cũng… rất ngạc nhiên. Ông bảo ông không để ý, hay đúng hơn không cảm thấy khó khăn. Có lẽ, ông nói, vì mình sống thật tình đến cùng với bà con.

Ta biết ít ra một ví dụ về thành công này của Condominas, trong việc ông tìm ra được bộ đàn đá tiền sử đầu tiên trên thế giới… Đêm ở làng Sar Luk, như mọi đêm, sau một ngày sống và lao động cùng bà con, Condo ngồi hút rượu cần và rít tẩu thuốc với các già làng bên bếp lửa nhà sàn, lơ mơ ngủ, chợt thức dậy lại hút rượu và rít thuốc, lại lơ mơ ngủ, không hề để ý một thanh niên ngày hôm ấy được điều đi sửa con đường từ Sar Luk đi Đầm Ròn đang lầm rầm kể chuyện… Đang thiêm thiếp, chợt Condo giật mình thức dậy, hỏi: “Cậu vừa nói gì đấy? Nói lại xem!”. Lơ mơ ngủ nhưng ông vừa nghe được hai tiếng “mau prum”. “Nhắc lại đi!”, ông khẩn khoản. Vì, đã quên mình là người lạ, người Pháp, hết sức thông thạo đến ăn sâu trong máu thịt tiếng Mnông Gar, nhưng đồng thời ông vẫn là nhà dân tộc học, tỉnh táo và sắc sảo, để chỉ cần hai tiếng “mau prum” nghe như trong mơ đã đánh thức ngay nhà dân tộc học trong ông dậy. “Mau prum” có nghĩa là đá Chàm. Và là nhà dân tộc học thành thạo, ông biết người Chàm chưa bao giờ đặt chân lên vùng đất Krông Nô này suốt lịch sử. Nghĩa là người thanh niên kia đã thấy một điều gì đó rất lạ mà anh ta không hiểu được trong ngày đi làm đường hôm nay. Anh kể: trong khi lao động sáng nay, các anh đã phá một ụ đất để nắn lại con đường trước đây bị uốn cong, và tìm thấy trong ấy mười một phiên đá lạ, rất dài, mà người Mnông khi gặp bất cứ vật cổ nào mà họ không thể hiểu và họ tin là bí ẩn, thiêng liêng thì đều coi đó là của người Chàm xưa… Sáng hôm sau Condo cùng người thanh niên đi đến hiện trường, quan sát kỹ, nhận ra đấy là những phiến đá đã được đẽo gọt bởi bàn tay con người, một vật cổ, có thể là tiền sử… Những phiến đá ở làng Dnut Lieng Krak, cách Sar Luk khoảng 10 km, được Condominas phát hiện năm 1949, gửi về viện Nhân chủng học Paris, được các chuyên gia nhân học, khảo cổ học, nhạc học nghiên cứu tỉ mỉ, xác nhận là một bộ đàn đá tiền sử (đúng ra là hai bộ, thiếu mất một thanh), cực kỳ đặc sắc, là bộ đàn đá tiền sử đầu tiên tìm được trên thế giới, có niên đại khoảng ba nghìn năm …

Condominas rất ít khi nhắc lại chiến công khảo cổ học từng làm chấn động thế giới ấy của ông. Ông chỉ nói: “Dân tộc học là một loại hình sống”, vậy thôi. Thế đấy!

… Từ Sar Luk, Condominas mang về cho thế giới khoa học (và cả văn học) tác phẩm “Chúng tôi ăn rừng Đá Thần Gô”, ra mắt ở nhà xuất bản Mercure de France, nơi chỉ chuyên in tác phẩm văn học của những văn hào lớn như Verlaine và Rimbaud, và cuốn sách lập tức được nhà nhân học hàng đầu Claude Lévy-Strauss coi là “đánh dấu sự đăng quang trong nền văn học dân tộc học của một thể loại hoàn toàn mới, nổi bật vì sự gắn bó với hiện thực bản địa, sâu sắc hơn tất cả những gì đã từng có trước nay”. Ít lâu sau, cuốn sách thứ hai về Sar Luk của ông ra đời, cũng hết sức độc đáo, cuốn “L’exotique est quotidien” (có thể dịch là “Kỳ lạ mỗi ngày”), bút ký tự thuật cảm động và uyên bác về sự nghiệp hay cuộc đời “dân tộc học là một loại hình sống” của ông …

Hôm nay chúng ta tiễn đưa về cõi vĩnh hằng một nhà bác học lớn, một người bạn lớn của Việt Nam, đặc biệt của các dân tộc Tây Nguyên, người, tôi tin vậy, cho đến giờ phút cuối cùng vẫn không ngớt nỗi nhớ dằng dặc và nội lo đau đáu về Tây Nguyên của chúng ta, của ông. Vì Tây Nguyên đối với ông đã trở thành “một loại hình sống”.

Hãy biết yêu và lo như ông.

Nguyên Ngọc  - 19-7-2011






Châu Anh Tuấn

(Tựa gốc; Vào bếp để kiếm một cái nghề)


SGTT.VN - Cậu bé con nhà nghèo ít học tìm đến với bếp hòng kiếm một nghề để mưu sinh. Hai mươi ba năm sau, cậu bé thuở đó trở thành đầu bếp và dành cho bếp một tình yêu thật mãnh liệt.

Vào nghề bằng món hủ tíu xào

Đầu bếp Châu Anh Tuấn Ảnh: Minh Cúc

Đầu bếp Châu Anh Tuấn nhớ như in ngày 30.4 năm anh 14 tuổi. Buổi sáng hôm đó, Tuấn và một người bạn hẹn nhau hôm sau sẽ đi xin việc. Cậu bé vào đời sớm, suy nghĩ: “Cuộc sống ai cũng phải có cái nghề, thôi thì đi học nghề bếp”. Còn non trẻ nên Tuấn chỉ làm các công việc như chạy bàn, rửa chén, dọn dẹp quán. Quán nhỏ, chỉ nấu khoảng 40 món ăn bình dân như hủ tíu xào, mì xào giòn, cơm chiên, lẩu… Mỗi lần nhìn đầu bếp xào nấu, lửa bốc phừng phừng trong chảo khiến Tuấn thích thú rồi bắt đầu nhìn ngó, để ý cách làm. Một năm sau Tuấn được cầm chảo nấu. Lần đầu tiên làm món hủ tíu xào mà sợi hủ tíu nát bét, bị khách chê dở, Tuấn buồn mấy ngày.

Từ đó, Tuấn tìm hiểu và phát hiện sợi hủ tíu để khô dốt dốt đem xào sẽ dai hơn. Với món mì xào giòn, khi dầu chưa nóng tới mà bỏ mì vào thì mì sẽ bị chai, không nổi giòn. Những lần sau đó, Tuấn nấu lên tay, khách ăn khen ngon, vậy là sung sướng, cứ thế mà vào bếp ra tay. Tuấn kể: “Hồi đó khoái nấu, ham nấu lắm. Cứ canh chừng, đầu bếp chính ngủ mà có khách tới là chạy ra nấu”.

Nhờ chịu khó học hỏi nên năm 17 tuổi, Tuấn đã có thể nấu thành thạo hơn 100 món ăn. Khách hàng khen: “Thằng này nhỏ mà nấu ăn được”. Tuấn tự tin: “Tôi ăn được, nêm nếm được thì làm ra được. Tôi có thể cảm nhận được từ 80 – 90% hương vị các nguyên liệu sử dụng trong từng món”. Năm 1995, lương đầu bếp ở quán ăn chỉ có 600.000 đồng/tháng, một người bạn đề nghị Tuấn ra làm đầu bếp cho nhà hàng với mức lương gấp đôi. Rời cái nôi ban đầu, Tuấn mạnh dạn thử sức trong môi trường mới, nấu từ món lẻ cho đến khách đoàn, buffet, tiệc cưới…

Sáng tạo để có món riêng

Nước mắm kho quẹt. Ảnh: Minh Cúc

Ngoài chuyện học hỏi, Tuấn luôn tìm cách sáng tạo để những món ăn quen thuộc mang dấu ấn riêng của mình. Bởi theo Tuấn: “Ẩm thực Việt Nam không ngừng phát triển, món ăn mới ra đều đều”, đó là kết quả của sự sáng tạo không ngừng của các đầu bếp. Món giò heo chiên giòn của Tuấn thơm phức, không mỡ, giò heo không lớn không nhỏ, tầm 1,5 ký một giò. Da heo vàng rộm, thịt mềm vừa ăn. Riêng chỉ có món nước mắm kho quẹt dân dã, quen thuộc cũng “ngốn” mất của Tuấn 15 ngày tìm tòi pha phối. Nước mắm loại 36 độ đạm kho với đường, bột ngọt, hành, tiêu đập bể 7/3, tỏi, ớt, tôm khô, thịt xay, tép mỡ. Món này nấu xong có màu nâu cánh gián thật hấp dẫn, vị ngọt, mặn vừa ăn; vị thơm cay, độ sánh sệt vừa phải, tép mỡ nổi trên mặt. Thêm rổ rau lang, cải đắng, bông cải trắng, bông cải xanh, đậu bắp, bầu, cải thảo, cải thìa luộc xanh um và một quả trứng luộc. Đó là món rau “Vợ thằng Đậu” đặc trưng của đầu bếp Châu Anh Tuấn.

Ở mỗi nơi làm việc Tuấn vừa sáng tạo món mới vừa truyền nghề lại cho học trò. Khi học trò đã thành thạo, Tuấn lại ra đi tìm đến môi trường khác học hỏi và phát huy tiếp. Hiện, Tuấn đang truyền nghề cho 30 bạn trẻ. Tuấn tâm tư: “Tôi thích những học trò yêu nghề. Yêu nghề không chỉ chăm học suông mà phải biết quan sát, ví dụ, thấy bếp đang nấu sắp hết nước thì chạy đi lấy sẵn nước chớ không cần gọi”. Với Tuấn, nghề bếp cũng cần có cái đầu biết tính toán, có cái lưỡi nhạy cảm để làm sao chế biến món ăn ngon, cân bằng và ít tốn thời gian. Siêng quá, ngoan quá mà không chịu suy nghĩ cũng không làm được.

“Anh có tủi thân khi so sánh với các đầu bếp được đào tạo chuyên nghiệp?”, tôi mạo muội hỏi. Tuấn cười: “Tôi học không nhiều nhưng nấu nướng phải ngon, tính toán chuẩn mực. Làm đầu bếp có thể không cần bằng cấp nhưng cần đưa thực phẩm tốt vào cho món ăn ngon”.
bài và ảnh Minh Cúc - 20/07/11